Chào mừng quý vị đến với website của ...
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HOẰNG LÝ
LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HOẰNG LÝ
I) Giới thiệu chung:
1. Tên trường: Trường Trung học cơ sở Hoằng Lý
2. Năm thành lập: 1959
3. Địa chỉ: Xã Hoằng Lý, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
II) Một số thành tích nổi bật và lịch sử phát triển của trường:
1. Vị trí địa lí và tình hình địa phương :
Hoằng Lý là một xã ở phía bắc của huyện Hoằng Hoá cách trung tâm Thành phố Thanh Hóa 6 km về phía Bắc. Là một xã có phía nam và phía đông nam là dòng sông Mã và sông Tào (một nhánh của sông Mã) bao bọc, bên kia sông là các xã Thiệu Dương, Đông Cương của Thành phố Thanh Hoá và Thị trấn Tào Xuyên của huyện Hoằng Hoá; Phía đông giáp Hoằng Cát và Hoằng Anh; Phía bắc giáp Hoằng Quỳ, phía tây giáp Hoằng Hợp của huyện Hoằng Hóa. Hoằng Lý là cửa ngõ của thành phố Thanh Hoá, có đường quốc lộ IA chạy qua, giao thông thuận lợi rất thuận tiện cho phát triển kinh tế và làm dịch vụ thương mại. Hoằng Lý có 289, 79 ha đất tự nhiên, trong đó có 62, 63 ha đất bãi có phù sa bồi đắp, đất màu mỡ thuận lợi cho trồng hoa màu và lương thực cung cấp cho thành phố thanh hoá và phát triển chăn nuôi, đất trồng lúa chỉ có 111, 27 ha đủ cung cấp lương thực cho nhân dân ăn trong năm. toàn xã có 812 hộ với 3320 nhân khẩu, tất cả chia thành 4 làng: làng Tào mỹ (nay gọi là Nam lý), Tào Thịnh, Tào Thượng, Tào Trụ, phân thành 7 thôn. Hoằng Lý có 3 làng văn hoá được công nhận cấp huyện và một làng văn hoá được công nhận cấp tỉnh. Hoằng Lý là một xã đất hẹp người đông chủ yếu là làm nông nghiệp nên cuộc sống trong thời gian trước đây gặp nhiều khó khăn. Gần đây được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Chính quyền địa phương nhân dân Hoằng Lý đã năng động hơn, một bộ phận đã tìm ngành nghề và làm dịch vụ nên thu nhập cao hơn, kinh tế đã phát triển, nhiều nhà cao tầng đã mọc lên san sát, đường làng ngõ xóm được bê tông hoá sạch hơn, an ninh - chính trị dần dần được ổn định, văn hoá xã hội được phát triển. Số hộ nghèo giảm dần chỉ còn có 7%. Hoằng Lý là một xã có truyền thống yêu nước, trong hai cuộc kháng chiến đã đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến. Hàng trăm người con Hoằng Lý tình nguyện lên đường cầm súng đánh giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc thống nhất đất nước. Có 123 liệt sỹ hy sinh tuổi thanh xuân của mình cho đất nước và có nhiều thương bệnh binh đã đề lại một phần máu thịt của mình cho tổ quốc; Hàng trăm người tham gia dân công tiếp vận cho hai cuộc kháng chiến. Hoằng Lý đã được nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc.
Hoằng Lý có truyền thống hiếu học, đời sống văn hoá phong phú đa dạng. Trong hơn nữa thế kỷ qua ngành giáo dục Hoằng Lý được củng cố và phát triển không ngừng, hệ thống giáo dục của xã được phát triển hoàn chỉnh cả 3 cấp học và nay có thêm trung tâm giáo dục cộng đồng. Xã có 3 trường đạt chuẩn quốc gia. Xã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục THCS năm 2009, hàng năm giữ vững chất lượng PCGD THCS.
2. Quá trình hình thành và Lịch sử phát triển
2.1. Giai đoạn 1954-1965:
Nhớ lại những ngày đầu đất nước mới giải phóng năm 1954 nhân dân đại đa số chưa biết chữ, thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ kính yêu: “Diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, ngành giáo dục của xã nhà đã tiên phong dấy lên một phong trào bình dân học vụ sôi nổi, các lớp Bổ túc văn hóa được tổ chức rộng rãi ở tất cả các làng trong xã, không kể trường lớp, bàn ghế mà chỉ là những tấm ván, cánh cửa, cái ghế ngã xuống nền nhà làm bàn học. Phong trào nhà nhà đi học, người người đi học, không kể già trẻ, gái, trai nô nức tham gia đi học bình dân học vụ. Chính vì vậy mà xã cũng được công nhận thanh toán được nạn mù chữ trong toàn dân năm 1954. Hoà bình lập lại miền Bắc được giải phóng ngành giáo dục được thành lập và phát triển, nhiều địa phương trên toàn quốc đã mở trường cho con em cắp sách đến trường đi học. Huyện Hoằng Hoá là một trong những đơn vị có phong trào đi đầu trong sự nghiệp phát triển giáo dục.
Từ năm 1954 trở đi, thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước cho phép các địa phương trong cả nước xây dựng trường phổ thông dân lập cấp I, cấp II. Hoằng Hóa là một trong những huyện có phong trào xây dựng và phát triển các trường cấp I, cấp II như trường Cấp II dân lập Hoằng Tiến, Hoằng Phong, Tố Như (Hoằng Lộc). Hoằng Lý đã chớp thời cơ vận động nhân dân xây dựng trường cấp II dân lập Hoằng Lý năm 1959 là nơi học tập của con em các xã Hoằng Lý, Hoằng Long, Hoằng Anh, Hoằng Minh, Hoằng Quỳ, Hoằng Hợp,, Hoằng Cát. Lãnh đạo 7 xã đã họp bàn biện pháp xây dựng cơ sở vật chất nhà trường đồng thời huy động nhân dân có con em đi học đóng góp tiền, công lao động trong vòng 1, 2 tháng trường được xây dựng xong một văn phòng và 3 phòng học bằng tranh tre, nứa lá tại làng Tào Thượng là nơi phục vụ cho giảng dạy và học tập cho thầy và trò. Thầy Trương Văn Huấn quê ở huyện Thọ Xuân (nay là huyện Triệu Sơn) tỉnh Thanh Hóa nguyên là Trưởng phòng tổ chức Ty giáo dục Thanh Hóa làm Hiệu trưởng.
* Khóa học 1959-1962:
Năm học đầu tiên (1959-1960) nhà trường đã tuyển được ba lớp 5 với 145 học sinh bao gồm con em của 7 xã . Các năm học tiếp theo mỗi năm tuyển được ba lớp đưa tổng số lớp của năm học 1961-1962 với 9 lớp, số học sinh là 385 em.
Về đội ngũ giáo viên khóa học đầu tiên 1959-1962 có các thầy Trương Văn Huấn, Lê Sĩ Tùng, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Hữu Dinh, Bùi Bằng Đàn, Lê Văn Đắc, Lê Tuynh, Nguyễn Văn Nhu, Nguyễn Phương, thầy Lễ, cô Nguyễn Thị Thả. Trình độ giáo viên lúc đó chủ yếu là 7+2, 9+1 được bồi dưỡng tại các trường Sư phạm trong nước. Các thầy hội tụ từ nhiều miền quê có thầy tại địa phương, có thầy ở trong huyện, trong tỉnh, có thầy ở ngoài tỉnh như Nghệ An, Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định.
Mặc dù ban đầu mới thành lập gặp rất nhiều khó khăn về tài liệu, đồ dùng dạy học, sách giáo khoa, ... nhưng với tinh thần vượt khó và ý chí quyết tâm các thầy các cô đã đem hết khả năng của mình giúp đỡ, giảng dạy học sinh học tập.
Chất lượng khóa học đạt 98% lên lớp, tỉ lệ tốt nghiệp đạt trên 90%.
* Khóa học 1960-1963 gồm có 9 lớp với 400 học sinh gồm con em của 7 xã. Hiệu trưởng là thầy Lê Sĩ Tùng thay cho thầy Trương Văn Huấn được điều động đi công tác nơi khác vào năm 1962. Đội ngũ giáo viên được tăng thêm so với khóa trước, các thầy cô mới được chuyển về là thầy Trịnh Cừ, thầy Hoàng Văn Cam.
Chất lượng giáo dục đạt 98 % lên lóp, tỉ lệ Tốt nghiệp đạt trên 90%.
Cơ sở vật chất được tăng cường thêm ba phòng bằng tranh tre, nứa lá nâng tổng số phòng học lên thành 6 phòng phục vụ cho 2 ca học sáng, chiều.
* Khóa 1961-1964 Hiệu trưởng vẫn là thầy Lê Sĩ Tùng, số lớp và số học sinh duy trì như khóa trước. Phong trào học tập được củng cố và nâng cao hơn trước do đó chất lượng giáo dục được nâng lên. Đội ngũ giáo viên cơ bản ổn định và được tăng cường thêm thầy Lê Văn Kiện.
Về cơ sở vật chất có sự thay đổi, do có chủ trương của Đảng và Nhà nước phá chùa chiền xây trường học nên trường cấp II Hoằng Lý đã có chủ trương xây dựng trường mới vào khu vực làng làng Thượng Thịnh kiên cố với 6 phòng học cấp 4 và một văn phòng. Trang thiết bị dạy học được tăng cường, bổ sung đồng thời trường phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học trong giáo viên phục vụ cho dạy và học.
Chất lượng giáo dục đã có bước nhảy vọt, tỉ lệ học sinh khá giỏi được tăng lên đạt từ 8-10%.
* Khóa học 1962-1965 về quy mô trường lớp cơ bản ổn định như khóa trước. Thầy Lê khắc Doãn Hiệu trưởng năm (1962-1963). Thầy Lê sĩ Tùng Hiệu trưởng các năm (1963-1965).
Khóa học này có một sự kiện đặc biệt là đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh, đánh phá miền Bắc. Trong đó khu vực Hàm Rồng là một trong những địa điểm trọng yếu bị oanh tạc. Năm 1962 phong trào xây dựng trường ở các xã đã phát triển, được sự quan tâm của Đảng bộ và chính quyền địa phương, nhân dân Hoằng Lý đã góp công, góp của xây dựng một ngôi trường cấp 4 khang trang với 6 phòng học và một văn phòng cho giáo viên làm việc. Ngôi trường mới được xây dựng xong nhà trường đưa học sinh vào học mới được 5 tháng thì chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ leo thang ra miền Bắc bắn phá. Hoằng Lý là trọng điểm bắn phá của đế quốc Mỹ, chúng ngày đêm oanh tạc ném bom bi, bắn rốc két và đạn pháo của hạm đội Mỹ ở biển Đông vào khu vực này mỗi ngày một ác liệt hơn đã gây thiệt hại người và của cho cho nhân dân xã nhà. Vận dụng chủ trương chuyển hướng chỉ đạo từ thời bình sang thời chiến của Đảng, trường chuyển về nhà dân để giảng dạy và học tập. Nhà trường đã chuyển số lớp về nhà dân hào hầm, hào cho học sinh đội mũ rơm trước khi đi học. Nhiều buổi, nhiều tiết đang học máy bay Mỹ đến bắn phá giáo viên phải hướng dẫn học sinh sơ tán ra hầm hào, máy bay Mỹ đi hết thầy và trò lại vào lớp tiếp tục học tập. Mặc dù máy bay Mỹ bắn phá ác liệt như vậy song thầy và trò vẫn kiên cường bám lớp, bám trường để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy và học.
Đội ngũ giáo viên tương đối ổn định một số thầy cô chuyển đi nơi khác đó là: thầy Lê Tuynh, cô Nguyễn thị Thả, thầy Lê Minh, thầy Nguyễn văn Nhu, thầy Nguyễn văn Tuấn. thầy Lê Văn Đoan, thầy Nguyễn Văn Bồng được chuyển về công tác.
Chát lượng giáo dục vẫn được duy trì và giữ vững, tỉ lệ lên lớp đạt 96% trong đó 12% học sinh giỏi, học sinh tiên tiến. Tỷ lệ vào cấp III đat 25%.
Chất lượng đội ngũ giáo viên đã nâng lên rõ rệt. 100% giáo viên đạt loại khá và giỏi. Trong số đó có thầy Bùi Bằng Đàn đạt giáo viên giỏi cấp huyện. Thầy Lê Sĩ Tùng đạt chiến sĩ thi đua cấp tỉnh.
Phong trào kết nghĩa tình quân dân giữa các đơn vị bộ đội với các chi đoàn địa phương, nhà trường ngày càng mật thiết. Hàng tuần vào thứ bảy hàng tuần Thiếu nhi, Đoàn viên thanh niên xuống ca hát, động viên các chú bộ đội hăng say chiến đấu một số đoàn viên thanh niên sau khi học xong xuống thay pháo thủ khi có bộ đội hy sinh. Các em thiếu nhi tham gia làm báo tường ca ngợi các chú bộ đội bắn máy bay Mỹ, động viên bằng lời ca tiếng hát, nấu nước, lấy lá cây cho các chú ngụy trang pháo cao xạ. Thanh niên nhà trường và địa phương tham gia chuyển pháo, vác đạn cho các chú bộ đội. Một số đoàn viên thanh niên đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam là cô Tào Thị Chúc,...
2.2 Giai đoạn 1965-1973
* Khóa học 1963-1966, Thầy Hiệu trưởng vẫn là thầy Lê Sĩ Tùng. Đội ngũ giáo viên vẫn ổn định không có gì thay đổi. Năm học này nhiều xã đã mở trường học cấp II nên nhà trường chỉ còn học sinh Hoằng Lý và một số học sinh Hoằng Long. Do đó số học sinh chỉ còn lớp với 245 học sinh.
Chiến tranh ngày càng khốc liệt. Máy bay địch bắn phá khu vực Hàm Rồng trong đó có Hoằng Lý cả ngày lẫn đêm, nhân dân địa phương đã xây dựng lán trại, đào hào đắp lũy, làm mũ rơm, làm vành lá ngụy trang để đảm bảo an toàn cho học sinh. Thực hiện lời dạy của Hồ Chủ Tịch: “Dù Khó khăn dến đâu cũng phải thi đua học tốt, dạy tốt”, Nhà trường vận động phụ huynh cho con em đến lớp đều đặn, do đó sĩ số học sinh vẫn được duy trì 100%. Phong trào giảng dạy với phương châm “ tinh giản, vững chắc” nhằm đảm bảo chất lượng trong thời chiến. Phong trào xây dựng tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa trong nhà trường được câc nhà trường quan tâm đúng mức. Các nhà trường thi đua lẫn nhau, các giáo viên nổ lực thi đua với nhau, do đó chất lượng của các nhà trường vẫn duy trì và phát triển. Các phong trào nâng cao chất lượng giờ lên lớp; phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm cải tiến phương pháp giảng dạy, làm đồ dùng dạy học: Phong trào học tập dưới nhiều hình thức như học nhóm, học tổ, học kèm; xây dựng góc học tập, đi truy -về xào; Phong trào học tập các điển hình tiên tiến đã được các thầy, cô giáo và học sinh nhiệt tình hưởng ứng và tham gia tích cực. Nhà trường đã xuất hiên, nhiều giáo viên dạy khá, giỏi, học dinh giỏi. Chất lượng giáo giáo dục đã được nâng lên rõ rệt. Tỷ lệ lên lớp tăng lên so với năm học trước là 3% học sinh khá giỏi, 2% học sinh trung bình và 3% học sinh được vào cấp III.
Nhà trường đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc cấp huyện, có 2 tổ đạt tổ lao động xã hội chủ nghĩa.
* Khóa học 1064-1967 Hiệu trưởng là thầy Lê Sĩ Tùng
* Khóa học 1965-1968 Thầy Nguyễn Văn Tầm phụ trách trường thay cho thầy Tùng chuyển đi nơi khác.
* Các khóa từ 1966-1969 đến 1972-1973 nhà trường sáp nhập với các trường cấp II Hoằng Quỳ, Hoằng Hợp thành trường cấp II Lý Quỳ Hợp. Thầy Trịnh Cừ làm Hiệu trưởng.
Chiến tranh ngày một khốc liệt hơn trường học lúc này bị tàn phá nặng nề, nhân dân Hoằng Lý và học sinh phải đi sơ tán đi các xã lân cận. Trường Cấp 2 Hoằng Lý phải sơ tán lên Hoằng Hợp cùng với nhân dân đào hào đắp luỹ dựng lớp học để cho con em tiếp tục học tập. Mặc dù phải đi sơ tán 8 năm (1965-1973), điều kiện học tập thiếu thốn, máy bay Mỹ băn phá ngày đêm, có lúc thì trường tháp nhập với trường cấp 2 Hoằng Hợp, có lúc trường lại tháp nhập với các trường Hoằng Quỳ, Hoằng Hợp, trải qua bao gian nan vất vả nhưng thầy trò trường Hoằng Lý vẫn thực hiện tốt khẩu hiệu của Bác Hồ:” Dù khó khăn đến đâu, thầy và trò vẫn quyết tâm thi đua dạy tốt và học tốt”. Chính vì vậy phong trào giáo dục của xã nhà vẫn được giữ vững và trên đà phát triển, tỷ lệ tốt nghiệp cấp 2 ngày một cao, nhiều học sinh đã đạt học sinh giỏi cấp huyện , cấp tỉnh nhà trường liên tục đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện và nhiều năm đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp tỉnh. nhà trường đã đóng góp nhiều học sinh ưu tú lên đường nhập ngũ để giải phóng miền nam .trong số đó nhiều học sinh đã cống hiến tuổi thanh xuân của mình để giải phóng dân tộc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
2.3 Giai đoạn 1973-1975
Năm 1973 hiệp đinh Giơ-ne-vơ được ký kết và có hiệu lực, chiến tranh phá hoại chấm dứt thầy và trò trường cấp 2 Hoằng Lý trở về quê cùng với Đảng uỷ, Chính quyền và nhân dân địa phương xây lại trường để cho thầy và trò tiếp tục giảng dạy và học tập. Chỉ trong thời gian ngắn trường lớp được tu sữa hoàn chỉnh đưa vào sử dụng với 6 phòng học đáp ứng cho học hai ca, một khu văn phòng và một khu nhà tập thể cho giáo viên.
Hàng năm nhà trường đều có 3 khối từ khối 5 đến khối 7 với 6 lớp số lượng học sinh có từ 280 đến 300 học sinh
Hiệu trưởng từ năm (1973-1974): Tào Nguyên quê ở Hoằng Lý - Hoằng Hóa và từ năm (1974-1975) Hiệu trưởng là thầy Nguyễn Lan Hoằng Hợp – Hoằng Hóa.
Đội ngũ giáo viên có sự thay đổi nhiều, các thầy cô ở tỉnh ngoài đã chuyển đi hết, còn lại một số thầy đã giảng dạy cũ ở trong huyện tiếp tục được ở lại giảng dạy. Phòng giáo dục bổ sung mội số thầy khác trở về đó là: các thầy Tào Huân, Lê Văn Trường, Nguyễn Văn Nghị, Tào Cúc, Trịnh Liệu và các cô Lê Thị Niên, Lê Thị Phan, Nguyễn Thị Liên. Đội ngũ giáo viên được tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Giáo viên được đào tạo bồi dưỡng hoàn chinh về kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ. Chất lượng học sinh dần dần được củng cố và đi vào nề nếp. Nhiều học sinh học tập đã vươn lên học giỏi. Nhà trường ngày một khang trang hơn, trang thiết bị, đồ dùng dạy học, sách giáo khoa và sách tham khảo phục vụ cho giảng dạy và học tập được tăng cường. Thư viện có đủ sách giáo khoa cho học sinh mượn. Tỷ lệ tốt nghiệp đạt từ 95% đến 97%. Tỷ lệ lên lớp đạt 98%. Có 20% học sinh khá giỏi. Phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi đã được chú trọng nhà trường đã có đội học sinh giỏi dự thi cấp huyện.
2.4 Giai đoạn 1975-1978
Thời kỳ 1975 đến 1978: cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hiệu trưởng là thầy: Lê Đỗ Chấn quê ở Hoằng Quỳ - Hoằng Hóa
Giai đoạn này giáo dục cả nước học chung một chương trình, sách khoa thống nhát. Thời kỳ này gặp rất nhiều khó khăn lớn như chế độ bao cấp tồn đọng kéo dài, hậu quả chiến tranh nặng nề dẫn đến sự khủng hoảng về đời sống xã hội. Ngành giáo dục cũng chịu ảnh hưởng tác động tiêu cực của những khó khăn trên. Nhiều giáo viên chán nản không yên tâm công tác.một số giáo viên trong huyện xin về, chuyển ngành, hoặc vừa dạy học vừa tìm việc khác để làm kiếm thêm thu nuôi con cái ăn học. Một số học sinh của gia đình khó khăn bỏ học tìm việc mới để giúp đỡ gia đình gây ảnh hưởng lớn cho ngành giáo dục. Các xã đã cho giáo viên đất bỏ hoang để cải tạo tăng gia sản xuất tăng thêm thu nhập để nuôi sống gia đình đồng thời giúp giáo viên yên tâm công tác.
Vận dụng đường lối chủ trương của Đảng trong công tác tổ chức lại sản xuất theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghia với khẩu hiệu: ”Tất cả vì tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân” các trường học đã được lãnh đạo địa phương quan tâm xây dựng ngói hóa. Trường cấp I được xây dựng cùng chung một địa điểm với cấp II quy mô 6 phòng học cấp 4 kiên cố cho học sinh học 2 ca trong ngày.
Đội ngũ giáo viên có sự thay đổi một số giáo viên chuyển đi là Thầy Huân, cô Niên, thầy Trịnh Cừ, một số thầy cô được bổ sung về trường đó là Cô Lê Thị Nho, cô Lê Thị Ngơn, cô Trương Thị Huệ, cô Lê Thị Bảo, cô Lê Thị Thiêm, cô Lê Thị Đô, cô Lê Thị Đước, cô Nguyễn Thị Hiếu, cô Lê Thị Nhung. Trình độ chuyên môn của giáo viên chủ yếu là 7+3, 10+1, 10+3.
Quy mô trường lớp: hàng năm mỗi khối có 2 lớp. Tổng số có 6 lớp, sĩ số hàng năm từ 200 đến 245 học sinh. Số học sinh bỏ học hàng năm từ 1% đến 1,5%.
Chất lượng hàng năm đạt tốt nghiệp từ 95% đến 100%, tỷ lệ lên lớp trung bình hàng năm đạt từ 95 đến 98%. Tỷ lệ học sinh vào cấp III khoảng30 %.
Cơ sở vật chất được củng cố và tăng cường nhà trường đã có tủ sách giáo khoa và tài liệu tham khảo, có trang thiết bị dạy học phục vụ cho dạy và học,
2.5 Giat đoạn 1978-1991
Hai cấp học cấp I và cấp II sáp nhập lại với nhau đặt tên là trường phổ thông cơ sở Hoằng Lý.
Hiệu trưởng là thầy: Lê Đỗ Chấn quê ở Hoằng Quỳ - Hoằng Hóa (1975-1989).
Hiệu trưởng là thầy Lê Nhật Quang ở Hoằng Quỳ - Hoằng Hóa (1989-1990).
Hiệu trưởng là thầy: Lê Văn Chung quê ở Hoằng Anh - Hoằng Hóa (1990-1991).
Hiệu phó là Thầy Lê văn Kiện từ năm ( 1981-1984) phụ trách chuyên môn cấp II và cô Lê Thị Vinh từ năm (1984-1991) phụ trách chuyên môn cấp II
Đội ngũ giáo viên có sự thay đổi: cô Lê Thị Thiêm, cô Lê Thị Bảo, cô Trần Thị Vĩnh, thầy Lê Nhân Tao, Lê Thị Đước chuyển đi, số giáo viên chuyển về là các cô Lê Thị Ngơn, Bùi Thị Thảo, Nguyễn Thị Ngơn, Lê Thị San, Lê Thị Hồi, Trần Thị Hạnh, Lê Thị Hà và thầy Nguyễn Trung Tuyến chuyển về.
Mỗi năm cấp 2 đều có 3 khối từ khối 5 đến khối 7 với 6 lớp số lượng học sinh có từ 290 đến 310 học sinh.
Mặc dù có nhiều khó khăn phong trào học tập đã có nhiều chuyển biến tốt đẹp. Nhiều gia đình phụ huynh đã chăm lo cho con em học tập. Chất lượng giáo dục ngày một nâng lên. Phong trào thao giảng chọn giáo viên giỏi được quan tâm đúng mức. Nhiều thầy cô giáo đã ngày đêm hết lòng vì học sinh thân yêu đã quan tâm chăm sóc cho học sinh nên nhiều học sinh đã vươn lên học giỏi. Nhà trường đã cung cấp cho trường chuyên của huyện nhiều học sinh giỏi, các em đã phấn đấu đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh như em: Nguyễn Lâm, Lê Văn Dục, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Văn Khôi đạt giải nhất, nhì cấp tỉnh. Tỷ lệ học sinh lên lớp đạt từ 95-97%, tỷ lệ tốt nhiệp đạt 97-100% , tỷ lệ vào cấp III đạt 30-35%, tỷ lệ bỏ học 1%- 2%.
Đội ngũ giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp huyện như cô Lê Thị Vinh, cô Lê Thị Nho, cô Trần Thị Hạnh.
Cơ sở vật chất có 12 phòng học cấp 4 và 1 văn phòng, hai dãy nhà tập thể cho giáo viên ở. Đời sống giáo viên dần dần được ổn định.
Nhiều năm nhà trường đạt trường tiên tiến cấp huyện.
2.6 Thời kỳ 1991-2012 - Thời kỳ đất nước đổi mới
Năm 1991 trường phổ thông cơ sở tách riêng hai cấp học. Trường cấp 2 đổi tên thành Trường Trung học cơ sở Hoằng Lý cho đến nay.
Hiệu trưởng là thầy Lê Văn Chung quê ở Hoằng Anh - Hoằng Hóa (1991-2002)
Hiệu trưởng là thầy Lê Ngọc Cận quê ở Hoằng Sơn - Hoằng Hóa (2002-2005)
Hiệu trưởng là thầy Lê Ngọc Quyết quê ở Hoằng Lý - Hoằng Hóa (2005-2011)
Hiệu trưởng là thầy Lê Ngọc Kiện quê ở Hoằng Hợp - Hoằng Hóa (2011-2012)
Hiệu phó là cô Lê thị Viên quê ở Hoằng Lộc - Hoằng Hóa (1991-1998)
Hiệu phó là thầy Lê Văn Quyền quê ở Hoằng Anh - Hoằng Hóa (1998-2007)
Hiệu phó là cô Lê Thị Phú quê ở Hoằng Trạch - Hoằng Hóa (2007-2012)
Quy mô trường lớp co hẹp do tỉ lệ sinh giảm và di dân tự do đi làm kinh tế. Mỗi năm trường có 4 khối từ khối 6 đến khối 9 với 8 lớp số lượng học sinh có từ 280 đến 290 học sinh. Riêng năm học 2011-2012 nhà trường có 185 học sinh
Đội ngũ giáo viên có nhiều thay đổi qua từng năm.số giáo viên có từ 22-24 giáo viên. Giáo viên về nghỉ hưu có các thầy: Thầy Sửu, thầy Tuyến, cô Thược, cô Ngơn. Giáo viên chuyển về ngay một nhiều như cô Lan, cô Thảo, cô Nhung, cô Đang, cô Thu,... Nhiều giáo viên có trình độ đại học ngày một nhiều. Trong những năm gần đây 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn. Số giáo viên đạt trình độ Đại học đạt 45%, còn lại là Cao đẳng.
Tỷlệ giáo viên đã đạt giáo viên giỏi của trường một lần, hai lần trở lên ngày càng nhiều. Số giáo viên đạt giáo viên giỏi từ 1 lần trở đi là: 15 giáo viên, chiếm tỉ lệ 75%, còn lại là giáo viên khá không có giáo viên yếu kém. Các giáo viên giỏi cấp huyện là cô Châu, cô Tào Thảo, cô Bùi Thảo, cô Nhung, cô Oanh, cô Nhu, cô Hòa, cô Tâm, cô Thu, cô Quyên, cô Đường, cô Hiền,...
Phong trào làm đồ dùng dạy học do phòng giáo dục phát động được nhà trường hưởng ứng tham gia tích cực. Qua các hội thi nhà trường đã có nhiều đồ dùng đạt giải nhất, giải nhì, giải ba cấp huyện.
Phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm hàng năm có 80 đến 100% giáo viên tham gia, trong số đó hàng năm có 10 đến 12 sáng kiến được xếp loại cấp huyện và cấp tỉnh.
Công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng phát triển hàng năm phụ huynh địa phương và những người hảo tâm đóng góp cho nhà hường từ 10 dến 12 triệu đồng xây dựng cơ sử vật chất nhà trường. Các cấp các ngành, đoàn thể chính trị trong xã quan tâm, giúp đỡ nhà trường trong công tác giáo dục. Hội phụ huynh học sinh đã phối hợp với nhà trường trong công tác giáo dục, đặc biệt quan tâm đến học sinh bỏ học, học sinh cá biệt, học sinh có hoàn cảnh khóa khăn để giúp đỡ. Nhà trường hàng năm đã vận động học sinh và giáo viên góp tiền hỗ trợ các em nghèo vượt khó từ 1 dến 2 triệu đồng. Tham gia làm công tác từ thiện, đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ chất độc gia cam, những người tàn tật hàng chục triệu đông.
Chất lượng dạy và học trường có nhiều học sinh giỏi cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnh và cấp quốc gia. Cung cấp cho trường Nhữ Bá Sỹ Hoằng Hoá và trường PTTH Chuyên Lam Sơn nhiều học sinh giỏi sau này các em đạt giải quốc gia. Nhà trường liên tục đạt trường Tiên tiến xuất sắc cấp huyện, nhiều năm đạt trường Tiên tiến cấp tỉnh, chi bộ nhà trường liên tục đạt chi bộ trong sạch vững mạnh, đội thiếu niên, hội chữ thập đỏ được Trung ương Đoàn tặng bằng khen; Công đoàn được Công đoàn ngành giáo dục huyện Hoằng Hoá, Công đoàn ngành Giáo dục tỉnh Thanh Hoá tặng giấy khen về công đoàn vững mạnh xuất sắc. Tập thể cán bộ quản lý, giáo viên nhiều đồng chí đạt chiến sỹ thi đua và giáo viên giỏi, có một đồng chí đạt nhà giáo ưu tú.
Tháng 9 năm 2009 vinh dự nhà trường được ủy ban nhân dân xã bàn giao cho một ngôi trường kiên cố với 1 dãy phòng học 2 tầng, 1 nhà hiệu bộ 2 tầng khang trang đủ chỗ cho giáo viên giảng dạy và học sinh học tập.
Tháng 10 năm 2010 nhà trường vinh dự được ủy ban nhân dân tỉnh công nhận trường chuẩn Quốc gia.
Nhìn lại chặng đường lịch sử từ khi nhà trường mới thành lập đến nay số lượng học sinh có lúc tăng, lúc giảm và biến động do chiến tranh từ chỗ nhà trường làm bằng tranh tre, nứa lá đến nhà cấp 4 và đến nay đã có ngôi trường khang trang đẹp đẽ, đủ các tiện nghi làm việc và học tập cho thầy và trò mới thấy hết giá trị lớn lao của Đảng, chính quyền, nhân dân địa phương và của các thế hệ thầy trò trong sự nghiệp xây dựng và phát triển giáo dục xã nhà nói riêng và giáo dục cả nước nói chung. Nhà trường tiếp tục động viên thầy - trò, nhân địa phương; Tham mưu tích cực cho Đảng, chính quyền địa phương; Tranh thủ sự hỗ trợ từ nguồn hỗ trợ của cấp trên; Thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục huy động nguồn lực từ các nhà hảo tâm để tiếp tục đầu tư mua sắm thêm trang thiết bị phục vụ cho dạy và học để nâng cao chất lượng giáo dục, giữ vững chất lượng trường chuẩn quốc gia, từng bước vươn lên là trường hành đầu khu vực.
3. Một số thành tích nổi bật:
Từ ngày thành lập đến nay nhà trường đã đạt được một số thành tích đáng kể đó là:
3.1 Chất lượng đại trà:
Xếp loại đạo đức hàng năm của học sinh đạt: 98 % Khávà Tốt
Xếp loại học lực hàng năm của học sinh đạt: 97 % từ trung bình trở lên trong đó Giỏi 20 %, Khá 30% )
Tỉ lệ tốt nghiệp THCS hàng năm đạt 99% trở lên. Tỉ lệ vào cấp III đạt từ 40%-90% hàng năm . Ba năm học gần đây (2008-2011) nhà trườngđạt tỷ lệ cấp III đạt 100%.
3.2 Chất lượng mũi nhọn:
Qua các kỳ thi học sinh giỏi hàng năm của huyện và của tỉnh, nhà trường đạt được 554 em có giải các loại (trong đó có 20 em đạt học sinh giỏi cấp tỉnh). Đồng đội của nhà trường nhiều năm liền đạt các giải Nhất, Nhì, Ba cấp huyện.
- Nhà trường góp phần đào tạo được 2 học sinh cũ hoc lên có trình độ tiến sĩ: em Lê Văn Huệ tiến sĩ y học, em Lê Thị Huệ tiến sĩ hóa học.
3.3 Chất lượng đội ngũ Cán bộ - giáo viên - nhân viên:
- 75% Giáo viên đạt được danh hiệu Giáo viên giỏi cấp huyện một lần trở lên. Trong số đó 4 GV đạt danh hiệu Giáo viên giỏi cấp tỉnh
- Giáo viên giỏi thế hệ trước năm 1991 là: thầy Bùi Bằng Đàn; thầy Nguyễn Hữu Dinh, Thầy Nguyễn Văn Bồng; Thầy Trịnh Cừ: Thầy Lê Sĩ Tùng, Cô Lê Thị Hạnh; Cô Lê Thị Vinh; Cô Lê Thị Hiếu; Thầy Hoàng Văn Cam; Thầy Nguyễn Văn Huân, thầy Nguyễn Lan, Thầy Lê Nhân Tao;...
- Giáo viên giỏi và chiến sỹ thi đua thế hệ từ năm 1992 đến nay (2012) là: cô Lê Thị Vân; Cô Lê Thị Hạnh; Cô Bùi Thị Thảo; cô Lê Thị Xuân; cô Nguyễn Thị Châu; cô Đoàn Thị Tâm; cô Lê Thị Nhung; cô Lê Thị Hiền; Cô Lê Thị Hương Lan; cô Lại Thị Nhu; cô Lê Thị Oanh; Cô Nguyễn Thị Thu; cô Tào Thị Thảo; Thầy Đỗ Chấn; thầy Lê Văn Chung; Thầy Lê ngọc Quyết; cô Lê Thị Phú, thầy Lê Ngọc Kiện, cô Lê Thị Đường, cô Cao Thị Hòa, cô Hoàng Thị Quyên, ...
- Trong số giáo viên công tác tại trường có 4 thầy cô là con liệt sĩ: cô lê thị San, Cô Lê thị Hà, Cô Lê Thị Nho, thầy Lê Ngọc Quyết.
- Có 3 thầy được tặng thưởng Bằng khen của Sở giáo dục thanh Hóa, Chr tịch UBND tỉnh đó là thầy Lê Văn Chung; thầy Lê Ngọc Quyết, thầy Lê Nhân Tao.
- Có 2 thầy được tặng thưởng Bằng khen của bộ giáo dục, Thủ tướng chính phủ, Liên đoàn Lao động việt nam đó là thầy : Thầy Lê ngọc Quyết, Thầy Lê Nhân Tao.
Đặ biệt 2 thầy được chủ tịch nước tặng thưởng danh hiệu nhà giáo Ưu tú
- Các đồng chí lãnh đạo nhà trường liên tục nhiều năm là Chiến sĩ thi đua các cấp (Lê văn Chung, Lê Ngọc Cận, Lê Ngọc Quyết, ...). Thầy Lê Ngọc Quyết đạt CSTĐ cấp tỉnh nhiều năm liền, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú năm 2010.
- Hàng năm nhà trường có từ 8 đến 10 đồng chí có sáng kiến kinh nghiệm được xếp loại cấp huyện, có đồng chí được xếp loại SKKN cấp tỉnh.
- Phong trào làm đồ dùng dạy học được hưởng ứng mạnh mẽ, trong các cuộc thi làm đồ dùng dạy học, nhà trường luôn có đồ dùng dạy học được xếp loại Nhất, Nhì, Ba cấp huyện.
- Phong trào tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên đạt kết quả tốt. Hàng năm đều có các đồng chí đi học đại học để nâng cao trình độ.
3.4 Công tác phổ cập giáo dục THCS:
Công tác PCGD THCS của nhà trường hàng năm được cấp trên xếp loại tốt và được cấp trên công nhận hoàn thành công tác phổ cập năm 2006 và đạt tỷ lệ 97,8%.
3.5 Danh hiệu nhà trường và các đoàn thể:
- Từ năm học 1959 -1990 : nhà trường được được công nhận trường Tiên tiến cấp tỉnh năm học 1962-1963; 1963-1964; 1987-1988, các năm còn lại đạt trường Tiên tiến cấp huyện .
- Từ năm học 1990-1991 đến năm học 2009-2010 đạt trường Tiên tiến xuất sắc cấp huyện, đạt trường tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh năm học 2010-2011.
- Công đoàn nhà trường: Liên tục được công đoàn huyện tặng giấy khen, năm học 1995-1996 được liên đoàn lao động tỉnh tặng bằng khen. Năm 1995, 1996, 1997 được công đoàn ngành giáo dục Thanh Hoá tặng giấy khen
- Hội chữ thập đỏ nhà trường được Hội chữ thập đỏ Việt nam tặng bằng khen các năm 2002,2004
- Đội thiếu niên tiền phong Hồ chí Minh nhà trường được tỉnh đoàn Thanh Hoá tặng giấy khen năm 1995
- Chi bộ nhà trường đạt chi bộ trong sạch vững mạnh 10 năm liên tục từ năm 1999 đến 2011.
III. Lời kết
Từ khi thành lập trường năm 1959 đến năm 2012 vừa tròn 53 năm nhà trường đã trải qua các giai đoạn lịch sử của đất nước, trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ song nhiệm vụ của nhà trường là giáo dục các em có đầy đủ phẩm chất đạo đức để làm người, bồi dưỡng năng lực, trí tuệ, đào tạo nguồn nhân lực cho quê hương đất nước. Nhà trường đã chắp cánh những ước mơ cho các em bay cao, bay xa cho lớp lớp, thế hệ học sinh đúng như lời dạy của Bác Hồ:
“ Vì lợi ích mười năm trồng cây,
Vì lợi ích trăm năm trồng người”.
Trường THCS Hoằng Lý có được là nhờ sự quan tâm sát sao của Đảng uỷ, chính quyền địa phương và sự góp công, góp của của nhân dân địa phương, sự kiên trì bám trường, bám lớp của lớp lớp các thế hệ các thầy cô giáo đã cùng nhau xây dựng cho lớp lớp thế hệ con em một số xã nói chung và con em Hoằng Lý nói riêng được học tập và rèn luyện, tu dưỡng thành những con người có đầy đủ trí tuệ, năng lực, đủ hành trang để học lên hoặc bước vào đời.
Với bề dày lịch sử, với truyền thống của quê hương anh hùng, với truyền thống tốt đẹp của nhà trường, với sự phấn đấu vươn lên của thầy và trò, với tinh thần nghị quyết TƯ5 khoá 8 về “Xây dựng và phát triển một nền văn hoá Việt nam đậm đà bản sắc dân tộc’’ những năm học tiếp theo nhà trường quyết tâm phấn đấu đạt được nhiều thành tích cao hơn, toàn diện hơn để đưa sự nghiệp giáo dục xã nhà tiến kịp với các xã bạn đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Hoằng Lý, ngày 08 tháng 6 năm 2012.
Người viết
Lê Ngọc Quyết
Lê Ngọc Kiện @ 20:09 06/11/2013
Số lượt xem: 733
Các ý kiến mới nhất